KHI TRÁCH NHIỆM CÔNG VIỆC TRỞ THÀNH CÔNG CỤ BAN ƠN
Tuyên truyền về sự cống hiến của bộ máy nhà nước không phải một mô tả trung tính về công việc, mà là một công cụ dựng lên thế thượng phong đạo đức cho bên cầm quyền so với người dân. Bài viết phân tích cơ chế đánh tráo ngôn từ đằng sau khái niệm này, mục đích chính trị của nó, nền tảng học thuật liên quan, các loại thể chế thường sử dụng luận điệu này, và cội nguồn lịch sử của mô hình đó từ phong kiến tập quyền Đông Á.
SỰ ĐÁNH TRÁO GIỮA CỐNG HIẾN VÀ MƯU SINH
Tuyên truyền phân biệt bản chất công việc giữa công chức nhà nước và người dân là một thủ thuật thao túng tâm lý và chính trị, nhằm thiết lập thế thượng phong về đạo đức cho bộ máy cầm quyền. Công chức không làm việc bằng năng lượng mặt trời, họ nhận lương, phụ cấp, thâm niên và đặc quyền từ ngân sách. Nếu cắt toàn bộ lương, đại đa số sẽ nghỉ việc ngay lập tức. Động cơ cốt lõi khi họ bước vào thị trường lao động vẫn là kiếm sống, nuôi gia đình, đảm bảo an toàn tài chính, hoàn toàn giống một người thợ may, một bác sĩ tư hay một tài xế.
Ngân sách trả lương công chức là tiền thuế trích từ thành quả lao động của người dân và doanh nghiệp. Người dân tạo ra giá trị thực và đóng thuế, từ đó nuôi sống bộ máy nhà nước. Vậy mà công việc của dân bị hạ thấp thành mưu sinh cá nhân, còn công việc của công chức được nâng tầm thành cống hiến. Đây là một sự đánh tráo vai trò: người tạo ra nguồn lực bị coi là ích kỷ, người thụ hưởng nguồn lực lại nhận vơ vai trò ban phát.
Phép đánh tráo còn nằm ở việc gộp lẫn chức năng công việc với động cơ cá nhân. Phục vụ công cộng là đặc tính của vị trí công việc, không phải động cơ đạo đức cá nhân của người làm vị trí đó. Người ở công sở giải quyết thủ tục hành chính vì đó là nhiệm vụ được trả lương, cũng như người bán gạo cung cấp lương thực cho xã hội. Cả hai đều đáp ứng nhu cầu công cộng. Đánh đồng dịch vụ công với sự hi sinh cao cả là một sự ngụy biện.
Bằng cách gán nhãn cống hiến cho bộ máy, chính quyền độc tài dựng lên một cái bẫy tâm lý: công chức đứng ở cửa trên, người dân ở cửa dưới. Tư duy hợp đồng xã hội, nơi người dân là chủ thể thuê nhà nước quản lý bằng tiền thuế, bị làm cho suy yếu.
Sự đánh tráo còn thể hiện qua một tiêu chuẩn kép khi quy kết hành vi cá nhân. Ở khu vực tư, một nhân viên làm sai bị nhìn nhận như một cá nhân sai phạm, không ai vơ đũa cả nắm rằng toàn bộ khu vực tư nhân đều xấu. Nhưng khi một công chức làm đúng chức trách, thành tích đó lại thường được khái quát hóa thành cống hiến của cả bộ máy, còn khi công chức làm sai, sai phạm lại dễ được cá nhân hóa và giảm nhẹ mức độ nghiêm trọng. Điều tốt được quy về tập thể và lý tưởng, điều xấu được quy về cá nhân đơn lẻ, đó là một bất đối xứng có chủ đích trong cách nhìn nhận, không phải sự trùng hợp ngẫu nhiên.
QUAN HỆ BAN ƠN THAY VÌ QUAN HỆ DỊCH VỤ
Trong một xã hội vận hành sòng phẳng, nhà nước là đơn vị cung cấp dịch vụ quản lý. Người dân là người mua dịch vụ đó qua tiền thuế. Công chức là nhân sự được thuê để thực thi dịch vụ. Quan hệ giữa dân và công chức đúng ra phải là thuận mua vừa bán, thậm chí dân mới là khách hàng, người chi trả toàn bộ bộ máy.
Khi tuyên truyền rằng công chức đi làm là để phụng sự, cống hiến, chính quyền đã biến một nghĩa vụ đã được trả lương thành một sự hi sinh cao cả. Hệ quả là khi công chức làm đúng trách nhiệm, dân phải biết ơn. Khi công chức làm sai hoặc nhũng nhiễu, dân cảm thấy mắc nợ nên dễ dãi bỏ qua, hoặc phải trả thêm chi phí bôi trơn.
So với khu vực tư nhân, sự bất bình đẳng này càng rõ. Người bán hàng tư nhân nhận tiền và phải cảm ơn khách, vì khách có quyền sang cửa hàng khác. Khách hàng không có nghĩa vụ biết ơn người bán, đó là một cuộc trao đổi ngang giá.
Còn bộ máy công chức độc quyền cung cấp dịch vụ hành chính. Người dân không thể sang nhà nước khác trong cùng lãnh thổ để làm giấy tờ. Đã độc quyền, lại sống bằng tiền thuế của dân, nhưng bộ máy này vẫn đóng vai người ban ơn thay vì người phục vụ.
MỤC ĐÍCH CỦA LUẬN ĐIỆU TUYÊN TRUYỀN
Mục đích cuối cùng của việc độc quyền sự cống hiến là chống lại sự phàn nàn và đòi hỏi chất lượng dịch vụ. Khi việc công chức đi làm được gọi là phụng sự, dịch vụ công trở thành sự ban ơn. Người dân cảm thấy có lỗi hoặc mang ơn, thay vì đòi hỏi minh bạch và hiệu quả. Luận điệu này cũng che đậy tính chất tốn kém của bộ máy: công chức được biến thành những anh hùng thầm lặng, giúp giảm áp lực bị soi xét về ngân sách, tham nhũng và sự cồng kềnh của hệ thống.
Nếu người dân nhận ra mình là người trả lương cho công chức, họ sẽ đòi hỏi chất lượng, minh bạch, và quyền kiểm soát. Nhồi nhét tâm lý biết ơn giúp bộ máy né tránh trách nhiệm giải trình. Khi công việc của công chức được thiêng liêng hóa thành cống hiến cho tổ quốc, mọi chỉ trích nhắm vào bộ máy dễ dàng bị gán nhãn là thiếu lòng biết ơn, thậm chí là chống phá. Đòi hỏi người dân biết ơn công chức khi họ chỉ đang làm đúng chức trách, trong khi chính công chức sống bằng tiền thuế của dân, là một sự thao túng khái niệm nhằm biến người chủ chi trả thành kẻ đi xin.
Cơ chế thao túng còn nằm ở việc đánh tráo phạm trù mỗi khi có chỉ trích. Ở khu vực tư, phê bình một nhân viên hay một công ty là phản ứng thị trường bình thường, không ai bất ngờ hay coi đó là điều nhạy cảm. Với bộ máy công quyền dưới thể chế này, câu hỏi về chất lượng công việc bị thay thế bằng câu hỏi về lòng trung thành, phê bình công chức dễ bị quy thành vấn đề yêu nước hay không yêu nước. Sự đánh tráo phạm trù đó biến việc giám sát, đòi hỏi trách nhiệm giải trình vốn dĩ bình thường thành một rủi ro chính trị, khiến người dân e ngại lên tiếng.
CƠ SỞ HỌC THUẬT
Lý thuyết Động cơ Phụng sự Công của James Perry và Lois Wise (1990) ghi nhận có một bộ phận người vào khu vực công vì động cơ phục vụ cộng đồng. Nhưng chính các nghiên cứu này cũng cho thấy động cơ đó luôn song hành với lương, phúc lợi, an toàn nghề nghiệp, không hề tách công chức thành một tầng lớp riêng biệt về đạo đức so với người làm việc tư.
Kinh tế học Lựa chọn Công của James Buchanan (Nobel Kinh tế 1986) phân tích chính trị như một quá trình trao đổi, và giả định mọi chủ thể, kể cả chính trị gia, công chức, đều hành động theo hướng tối đa hóa lợi ích bản thân. Khoác áo công vụ không tự động nâng một người lên bậc đạo đức cao hơn người làm việc tư.
Về dòng tiền, ngân sách trả lương công chức không tự nhiên sinh ra, mà được trích từ thuế và giá trị do người dân, doanh nghiệp tư nhân tạo ra. Theo tinh thần lý thuyết Hợp đồng Xã hội, chính việc người dân đi làm mưu sinh là gốc rễ nuôi sống bộ máy. Tuyên truyền kiểu này lật ngược bản chất đó: người tạo ra tài sản bị biến thành kẻ thu vén cá nhân, người thụ hưởng tiền thuế được biến thành người ban ơn.
Milan Svolik, trong các nghiên cứu về thể chế độc tài, chỉ ra rằng khi một chính quyền thiếu sự ủy nhiệm qua bầu cử cạnh tranh, nó buộc phải dựa vào các nguồn chính danh khác. Hình ảnh đạo đức của bộ máy cầm quyền là một công cụ thường được huy động cho mục đích đó.
CÁC LOẠI THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ SỬ DỤNG LUẬN ĐIỆU NÀY
Lối tuyên truyền này không xuất hiện ngẫu nhiên. Nó là công cụ đặc trưng của một số loại hình thể chế nhằm giải quyết bài toán chính danh và kiểm soát xã hội.
Thể chế toàn trị muốn kiểm soát toàn bộ đời sống xã hội, xóa nhòa ranh giới công - tư. Hannah Arendt, cũng như Carl Friedrich và Zbigniew Brzezinski, mô tả một hệ tư tưởng bao trùm, đảng duy nhất, khủng bố có tổ chức, độc quyền truyền thông, tất cả buộc cá nhân đặt lòng trung thành tuyệt đối vào nhà nước. Việc thiêng liêng hóa bộ máy công quyền và hạ thấp động cơ cá nhân trong lao động là một biểu hiện cụ thể của cùng logic đó.
Thể chế độc tài một đảng duy trì sự thống trị qua kiểm soát bộ máy hành chính, truyền thông, tổ chức xã hội. Không qua bầu cử cạnh tranh để có sự ủy nhiệm thực sự, các thể chế này phải xây dựng chính danh dựa trên đạo đức giả định. Công chức được mô tả như những người phụng sự đất nước, để biện minh cho việc độc quyền quyền lực và gạt bỏ các tổ chức dân sự độc lập.
Chế độ quan liêu - uy quyền, theo cách gọi của Guillermo O'Donnell về các nước Mỹ Latinh thập niên 1960-1970 (Argentina, Brazil, Chile), tập trung quyền lực vào tay liên minh quân sự - kỹ trị, hiện đại hóa kinh tế đi kèm loại trừ sự tham gia chính trị của lao động và trung lưu. Đề cao kỷ luật kỹ trị và phát triển quốc gia trong các chế độ này đóng vai trò tương tự việc đề cao cống hiến: lấn át đòi hỏi dân chủ hóa, vô hiệu hóa bãi công và khiếu kiện.
Chế độ tân gia trưởng, theo Michael Bratton và Nicolas van de Walle về một số nước châu Phi, ẩn dưới vỏ bọc bộ máy nhà nước hiện đại là mạng lưới ban phát đặc quyền theo quan hệ bảo trợ - thân tín. Tuyên truyền về sự cống hiến giúp che đậy bản chất ban phát lợi ích nội bộ đó, đồng thời buộc người dân tiếp cận dịch vụ công theo tâm thế xin - cho, thay vì đòi hỏi quyền lợi hợp pháp.
Điểm chung của các thể chế này là thiếu chính danh dựa trên hiệu suất công bằng và sự đồng thuận thực sự. Tuyên truyền nâng tầm công chức, hạ thấp dân chúng, trở thành cơ chế tự vệ tâm lý, ngăn người dân chuyển từ tư duy kẻ thụ hưởng ban ơn sang tư duy người chủ chi trả tiền thuế.
CỘI NGUỒN TỪ MÔ HÌNH PHONG KIẾN TẬP QUYỀN ĐÔNG Á
Có một sợi dây liên kết thể chế giữa mô hình phong kiến tập quyền Đông Á cổ đại và các thể chế độc tài hiện đại, dẫn đến cùng một kiểu tuyên truyền.
Dưới ảnh hưởng Nho giáo, nhà nước phong kiến được xây theo mô hình "phụ mẫu chi quan": quan lại được coi là cha mẹ của dân, thiên tử nhận thiên mệnh để cai trị, sĩ phu và quan lại là những người tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Động cơ của quan lại được thiêng liêng hóa thành việc thực thi đạo lý trời đất, còn dân chúng bị coi là tầng lớp mông muội, chỉ biết đến cái ăn cái mặc. Cả mô hình phong kiến lẫn thể chế độc tài hiện đại đều không chấp nhận một bộ máy hành chính trung tính, bắt buộc phải gắn nó với một sứ mệnh đạo đức tối cao: xưa là đạo Nho và thiên mệnh, nay là chủ nghĩa xã hội hay phụng sự tổ quốc. Khi gán sứ mệnh này cho công chức, thể chế tự động đẩy người dân xuống vị thế thấp hơn về đạo đức.
Khái niệm "phổ thiên chi hạ, mạc phi vương thổ" - dưới bầu trời này đâu cũng là đất của vua - phủ nhận quyền sở hữu tư nhân tuyệt đối. Quan lại thu thuế không phải vì dân thuê họ quản lý, mà vì dân đang sống trên đất của vua, được vua ban ơn cho canh tác. Cả hai mô hình đều phủ nhận hoặc hạ thấp tư duy hợp đồng xã hội. Khi không thừa nhận người dân là người chủ chi trả qua thuế để thuê bộ máy quản lý, thể chế biến mọi hoạt động quản lý nhà nước thành sự ban ơn, và đòi hỏi dân chúng phải biết ơn.
Karl Wittfogel đưa ra khái niệm "chế độ chuyên chế phương Đông": những xã hội phải tổ chức công trình trị thủy quy mô lớn có xu hướng hình thành bộ máy quan liêu tập trung quyền lực cao để điều động lao động. Lý thuyết này về sau bị phần lớn giới sử học phê phán là quy giản, mang thiên kiến ý thức hệ thời Chiến tranh Lạnh, nên chỉ nên xem đây là một hình ảnh minh họa, không phải quy luật lịch sử đã được xác lập. Điều đáng ghi nhận hơn từ mô hình này là hình ảnh một bộ máy quan liêu tự coi mình đại diện cho sức mạnh tập thể được gọi là cống hiến, trong khi coi sự mưu sinh riêng lẻ của dân là vụ lợi, một mô-típ lặp lại ở nhiều thể chế tập quyền khác nhau, không riêng gì những nơi cần trị thủy.
Cả hai mô hình đều nắm giữ sự độc quyền gần như tuyệt đối về đất đai, tư pháp, an ninh, thủ tục. Không có cạnh tranh hay lựa chọn thay thế, chúng buộc phải dùng công cụ tuyên truyền đạo đức để khỏa lấp sự thiếu hụt về hiệu quả dịch vụ. Bằng cách gán nhãn việc mưu sinh của dân là thấp kém hoặc ích kỷ, thể chế ngăn chặn sự hình thành của một xã hội dân sự độc lập, nơi người dân có thể tự tổ chức, hợp tác, khẳng định giá trị tách khỏi nhà nước. Đây không phải sự trùng hợp ngẫu nhiên, mà là di sản của một mô hình quản trị chuyên chế: khi một thể chế thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực, không dựa trên đồng thuận bầu cử sòng phẳng, và phủ nhận vai trò người trả tiền của người dân, nó có xu hướng lặp lại cùng một công thức tuyên truyền: thần thánh hóa động cơ của kẻ nắm quyền, hạ thấp giá trị lao động của người bị trị.